Quan Lớn Đệ Tam Thoải Phủ
Thống lĩnh thủy binh Long Giai Động Đình
Biên soạn: Andy Tran
Quan Lớn Đệ Tam Thoải Phủ là con trai thứ ba của Vua Cha Bát Hải Động Đình, được cha tin cậy giao thống lĩnh thủy binh nơi Long Giai Động Đình, cai quản Thoải phủ — miền sông nước bao la.
Tương truyền, thuở còn chinh chiến giúp vua Hùng thứ mười tám đánh giặc, Ngài đã lập nhiều công lớn trên mặt trận đường thủy, chỉ huy đoàn quân thủy tộc xông pha nơi sông sâu biển rộng, khiến quân thù khiếp sợ. Bình xong giặc giã, Ngài được Vua Cha giao trọng trách coi giữ Thoải phủ, thay cha cai quản muôn dòng sông, biển cả.
Ngài cùng Mẫu Đệ Tam Thoải Phủ trấn giữ chốn thủy cung, được xem là vị tướng quân uy dũng bậc nhất trong Ngũ Vị Tôn Quan, vừa cai quản việc nước non vừa gìn giữ đạo lý nơi trần thế. Người đi sông đi biển, làm nghề chài lưới đều một lòng tin cậy, khấn nguyện Ngài độ cho thuyền bè xuôi ngược bình an.
Sắc áo Ngài trắng tinh khôi — sắc của Thoải phủ. Trong các giá hầu đồng, Quan Đệ Tam thường xuất hiện với dáng vẻ oai phong của một vị tướng thủy quân, uy nghi mà khoan hòa.
Ngày tiệc Ngài nhằm 24 tháng Sáu âm lịch. Nhiều đền phủ ven sông, ven biển miền Bắc đều có ban thờ Quan Lớn Đệ Tam, cùng chung một mạch tín ngưỡng thờ vọng miền sông nước với Mẫu Thoải. Về thân thế của Ngài, chú giải văn thỉnh cho biết có nhiều thuyết, thuyết Phạm Vĩnh chỉ là một trong số đó.
Văn thỉnh
Trịnh giang biên doành ngân sở bắc
Đôi vầng hồng soi rạng nam minh
Con vua thủy quốc Động Đình
Đệ tam thái tử giáng sinh đền Rồng
Đức gồm vẹn thung dung hòa mặc
Bẩm sinh thành tư chất long nhan
Thỉnh mời thái tử đệ tam
Phi phương diện mạo dung nhan khác thường
Hằng tấu đối thiên đường thủy phủ
Chốn nam minh quy đủ bốn phương
Ra uy chấp chính kỷ cương
Cầm cân nảy mực sửa sang cõi đời
Chốn long giai cầm quyền thay chúa
Phép màu quan tối tú tối linh
Lệnh truyền thủy bộ chư dinh
Sửa sang đai giáp chơi miền nhân gian
Chiếc thuyền lan nổi dòng Xích Bích
Đua mái chèo du lịch bốn phương
Có phen tuần thú sông Thương
Trở về tỉnh Bắc, Quế Dương, Lục Đầu
Có phen ngự sông Dâu sông Hát
Khi lên ghềnh xuống thác vui chơi
Có phen vào lạch ra khơi
Sai quân lấy gỗ xoan đồi chò hoa
Có phen chơi ngã ba tuần hạc
Bạn loan ngồi đàn hát vui chơi
Dạo xem phong cảnh mọi nơi
Qua hang Anh Vũ sang chơi nước người
Có phen chơi cửa đài cửa bích
Khi ra khơi vào lạch thảnh thơi
Thuyền rồng trăm mái chèo bơi
Dọc ngang tuần Lảnh là nơi đi về
Trải giang khê lên ngàn xuống bể
Lảnh Giang từ quý địa danh lam
Đền thờ tán tía kiệu vàng
Tả long hữu hổ thạch bàn uy nghi
Hóa tức thì lâu đài điện các
Dâng nước về thủy quốc một khi
Có phen lấy ngọc lưu ly
Đùng đùng dâng nước phép thì ai đang
Qua đại giang sông Thao, sông Cả
Kéo quân về đóng ngã ba Tranh
Xướng ca đàn hát tập tành
Thi ngâm phú đọc đàn tranh chơi bời
Có phen lại về nơi thủy phủ
Đóng cân đai áo mũ vào tâu
Dăm ba đồng tử theo hầu
Vào tâu Vương phụ ra chầu Mẫu vương
Cũng có phen phi phương biến hóa
Qua Nghệ An thượng hạ đại giang
Thuyền rồng chèo quế buồm lan
Khi chơi Bạch Hạc khi sang sông Cầu
Có phen ngự Nam lâu Bắc điện
Trở ra về đến huyện Thiên Tôn
Dạo miền thác cái thác con
Khi chơi sông Hát khi sang sông Bờ
Dạo thần thơ Tản Viên Tam Đảo
Truyền chư quân đôi đạo tiên phong
Chiêng kêu cờ phất trống dong
Bè sau thuyền trước giữa dòng lênh đênh
Trống cầm canh chiêng vang anh ỏi
Lốt xanh vàng chìm nổi dư muôn
Triều thần văn vũ bách quan
Sai lên đón rước vương quan về chầu
Trên các lầu thơ ngâm phú đọc
Ngoài sân rồng ca chúc chén thiêng
Vua cha giá ngự ngai vàng
Phán đòi hoàng tử vương quan vào chầu
Ngự giờ lâu phán lời nhân thứ
Sai ông lên cứu trợ trần gian
Một tay hoàng tử vương quan
Cứu sinh cũng lắm độ oan cũng nhiều
Rầy ông đã về chầu nhân đức
Độ nhân gian vạn ức siêu sinh
Ông về tới chốn thủy cung
Khuông phù đệ tử khang ninh thọ trường
Toàn văn “Đệ Tam Vương Quan Văn” bản thứ nhất, 76 câu — văn khuyết danh, chép nguyên theo Bùi Hùng Thắng tổng hợp, 2016, tr.716–720; đối chiếu bản cùng tên in trong Ngô Đức Thịnh, Đạo Mẫu Việt Nam tập 2, tr.299.
Chú giải: “Đệ tam thái tử — Động Đình”: con thứ ba Vua Cha Bát Hải, cầm quyền thay chúa chốn Thoải phủ. “Trịnh giang biên”: mô-típ mở “bến sông trăng” dùng chung với văn Mẫu Thoải — dấu vết cùng kho công thức của dòng Thoải. Về thân thế, có nhiều thuyết (thuyết Phạm Vĩnh chỉ là một trong số đó).