Ba vị Thánh Mẫu tối cao cai quản ba miền vũ trụ — trời cao, rừng núi và sông nước — trong tín ngưỡng thờ Mẹ ngàn đời của người Việt.
“Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ”
Tín ngưỡng bản địa tôn thờ người Mẹ quyền năng — che chở, ban phúc và sinh dưỡng muôn loài.
Đạo Mẫu là tín ngưỡng dân gian thuần Việt, hình thành và phát triển từ tục thờ Nữ thần, Mẫu thần có từ thời xa xưa. Người Việt tôn thờ Thánh Mẫu — người Mẹ vũ trụ — như cội nguồn của sự sống, mùa màng, sức khỏe và bình an. Khác với nhiều tôn giáo du nhập, Đạo Mẫu sinh ra từ chính đời sống của cư dân trồng lúa nước, nơi hình ảnh người mẹ luôn ở vị trí thiêng liêng nhất.
Đến khoảng thế kỷ XVI, với sự xuất hiện của Thánh Mẫu Liễu Hạnh, tín ngưỡng thờ Mẫu phát triển thành hệ thống thờ Mẫu Tam phủ: vũ trụ được chia thành ba miền, mỗi miền do một vị Thánh Mẫu cai quản — Thiên phủ (miền trời), Nhạc phủ (miền rừng núi) và Thoải phủ (miền sông nước). Ba vị hợp thành Tam Tòa Thánh Mẫu, ngự trên cùng của điện thần Đạo Mẫu.
Gắn liền với Đạo Mẫu là nghi lễ hầu đồng và nghệ thuật hát chầu văn — nơi âm nhạc, vũ đạo, trang phục và văn chương hòa quyện thành một hình thức diễn xướng tâm linh độc đáo, được ví như "bảo tàng sống" của văn hóa Việt.
Chạm vào mỗi vị Thánh Mẫu để đọc sự tích của Ngài.
Thánh Mẫu Liễu Hạnh · Mẫu Nghi Thiên Hạ
Đứng đầu Tam Tòa Thánh Mẫu là Mẫu Đệ Nhất Thượng Thiên, cai quản miền trời — nơi làm ra mây mưa, sấm chớp, nắng hạn. Trong tâm thức dân gian, Ngài chính là Thánh Mẫu Liễu Hạnh, vị Thánh Mẫu quyền năng bậc nhất và là một trong "Tứ bất tử" của thần điện Việt Nam.
Tương truyền, Ngài vốn là Quỳnh Hoa công chúa, con gái Ngọc Hoàng Thượng Đế. Vì lỡ tay đánh rơi chén ngọc trong buổi chầu, công chúa bị đày xuống trần gian. Ngài giáng sinh vào nhà họ Lê ở làng An Thái, huyện Vụ Bản (Nam Định), mang tên Giáng Tiên — người con gái nhan sắc vẹn toàn, giỏi đàn ca, thơ phú. Nàng kết duyên cùng chàng Đào Lang, sống hiếu thuận, nhưng đến năm hai mươi mốt tuổi thì mãn hạn đày, phải bay về trời giữa lúc tình mẹ, nghĩa vợ chồng còn dang dở.
Nặng lòng với cõi nhân gian, Ngài xin Ngọc Hoàng cho giáng trần lần nữa với danh hiệu Liễu Hạnh. Từ đó, Ngài chu du khắp non nước — khi hiện thành cô hàng nước nơi đèo Ngang, khi là giai nhân họa thơ cùng danh sĩ Phùng Khắc Khoan bên Hồ Tây — trừng trị kẻ ác, ban phúc cho người lành, dạy dân trồng dâu, nuôi tằm, mở chợ.
Sau trận Sòng Sơn đại chiến với phái Nội Đạo Tràng, Ngài quy y cửa Phật, được triều đình nhiều lần sắc phong, tôn là "Mẫu Nghi Thiên Hạ" — người Mẹ mẫu mực của muôn dân. Dân gian suy tôn Ngài là hóa thân của Mẹ vũ trụ, đứng đầu ba phủ, nên tòa Ngài ngự mang sắc đỏ — sắc của Thiên phủ.
Đền thờ chính của Ngài là quần thể Phủ Dầy (Vụ Bản, Nam Định) — nơi mở hội tháng Ba âm lịch đông vui bậc nhất miền Bắc, cùng Phủ Tây Hồ (Hà Nội) và đền Sòng (Thanh Hóa). Câu ca "Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ" chính là nhắc ngày tiệc của Ngài.
Bà Chúa Thượng Ngàn · La Bình Công Chúa
Ngự bên hữu Tam Tòa là Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn, vị Thánh Mẫu áo xanh cai quản Nhạc phủ — miền rừng núi bạt ngàn, nơi khởi nguồn của gỗ quý, muông thú, thuốc nam và bao sản vật nuôi sống con người.
Truyền thuyết kể rằng Ngài là công chúa La Bình, con gái của Sơn Tinh — Tản Viên Sơn Thánh — và công chúa Mỵ Nương, cháu ngoại Vua Hùng. Thuở nhỏ, nàng thường theo cha chu du khắp núi non, hang động; đi đến đâu cũng được sơn thần, thổ địa quý mến. Nàng thuộc từng dáng núi, con suối, từng loài cây, tiếng chim của cả cõi Nam Giao rộng lớn.
Cảm tài đức ấy, Ngọc Hoàng phong nàng làm Bà Chúa Thượng Ngàn, coi giữ tám mươi mốt cửa rừng cõi Nam Giao. Từ đó, Ngài dạy dân miền ngược cách làm nương rẫy, trồng lúa, dệt vải, dựng nhà sàn tránh thú dữ, hái lá thuốc chữa bệnh — ơn đức thấm khắp các bản làng.
Dân gian còn truyền rằng, thuở nghĩa quân Lam Sơn của Lê Lợi bị vây khốn trong đêm rừng hiểm trở, Ngài đã hiển linh hóa phép thành muôn vàn đốm sáng — như đàn đom đóm dẫn đường — đưa nghĩa quân vượt vòng vây an toàn. Vì công hộ quốc ấy, các triều đại về sau đều có sắc phong tôn kính Ngài.
Đền thờ Ngài trải khắp miền sơn cước: đền Đông Cuông (Yên Bái), đền Bắc Lệ (Lạng Sơn), đền Suối Mỡ (Bắc Giang)... Ngày tiệc Mẫu Thượng Ngàn là 20 tháng Chín âm lịch, khi rừng thu vào mùa sản vật, con nhang đệ tử khắp nơi lại về lễ Mẹ rừng xanh.
Mẫu Thoải · Con gái Vua Cha Bát Hải Động Đình
Ngự bên tả Tam Tòa là Mẫu Đệ Tam, dân gian quen gọi là Mẫu Thoải — đọc chệch từ chữ "Thủy" — vị Thánh Mẫu áo trắng cai quản miền sông nước: sông ngòi, biển cả, mưa nguồn, giếng mạch nuôi sống cư dân trồng lúa nước.
Tương truyền, Ngài là con gái Vua Cha Bát Hải Động Đình, dòng dõi Long Vương nơi thủy cung. Ngài kết duyên cùng Kính Xuyên, con trai Vua Đất. Chẳng may, người tiểu thiếp Thảo Mai sinh lòng đố kỵ, bày mưu vu oan cho Ngài tội thất tiết. Kính Xuyên cả tin, nổi giận sai đóng cũi, đem bỏ vợ hiền vào rừng sâu cho thú dữ ăn thịt.
Nhưng ở chốn rừng thiêng, muông thú cảm thương đức hạnh của Ngài, ngày ngày mang hoa quả đến dâng. Một ngày kia, nho sĩ Liễu Nghị lạc bước qua rừng. Nghe rõ nỗi oan khuất, chàng nhận lời mang bức huyết thư của Ngài về hồ Động Đình, theo lời dặn gõ vào cây quất ngọc ba lần, trao thư tận tay Vua Cha.
Vua Cha Bát Hải lập tức sai rước con gái hồi cung, minh oan rửa sạch tội danh; kẻ gieo oan bị trừng phạt, còn Liễu Nghị trọng nghĩa được kết duyên cùng Ngài. Từ đó, Ngài trở về ngôi vị Thánh Mẫu Thoải phủ, coi giữ muôn dòng nước.
Người đi thuyền, kẻ chài lưới, người cầu mưa thuận gió hòa đều khấn Mẫu Thoải, tin rằng Ngài độ cho ghe thuyền xuôi ngược bình an, cho ruộng đồng khỏi hạn khỏi lụt. Đền thờ Ngài thường ở ven sông: đền Dầm, đền Xâm Thị (Thường Tín, Hà Nội), đền Mẫu Thoải (Lạng Sơn)... Ngày tiệc Mẫu là 10 tháng Sáu âm lịch.