Ông Hoàng Mười
Quan Hoàng Mười Nghệ An · Văn võ toàn tài
Biên soạn: Andy Tran
Khép lại Thập Vị Quan Hoàng là Ông Hoàng Mười — vị hoàng út tài hoa sang trọng bậc nhất, được dân gian ngợi ca là văn võ song toàn: ra trận cầm quân như thần, về triều thơ phú như hội.
Tương truyền, Ngài là con Vua Cha Bát Hải Động Đình, vâng lệnh giáng trần giúp dân giúp nước. Bản kể phổ biến nhất đồng nhất Ngài với danh tướng Nguyễn Xí — vị khai quốc công thần giúp Lê Thái Tổ đánh đuổi giặc Minh, sau được giao trấn thủ hai xứ Nghệ An, Hà Tĩnh quê nhà. Ông thương dân như con: mở kho phát chẩn năm đói, cho quân dựng lại nhà cửa sau cơn bão dữ, dạy dân cày cấy đôi bờ sông Lam.
Khi ông mất, nhân dân xứ Nghệ tiếc thương lập đền thờ bên bến Mỏ Hạc, tôn làm Ông Hoàng Mười — "Mười" còn hàm nghĩa vẹn toàn thập phần: tài mười, đức mười, công mười. Trong hầu bóng, giá Ông Hoàng Mười về ngự với sắc áo vàng rực rỡ, khăn xếp kim lệch, tay phe phẩy quạt, khi ban thơ phú, khi ban lộc công danh — là một trong những giá được mong đợi nhất các vấn hầu.
Sĩ tử cầu khoa cử, người cầu công danh sự nghiệp đều tìm về cửa Ngài. Đền thờ chính là đền Ông Hoàng Mười (Hưng Nguyên, Nghệ An) gần 400 năm tuổi bên sông Lam, cùng đền Chợ Củi (Nghi Xuân, Hà Tĩnh) bên kia sông. Ngày tiệc Ngài là 10 tháng Mười âm lịch — hội lớn nhất trong năm của xứ Nghệ.
Văn thỉnh
Cành hồng thấp thoáng trăng thanh
Nghệ An có đức thánh minh ra đời
Gươm thiêng chống chỉ đất trời
Đánh Đông, dẹp Bắc việc ngoài binh nhung
Thanh xuân một đấng anh hùng
Tài danh nổi tiếng khắp vùng Trời Nam
Hai vai nặng gánh cương thường
Sông Lam sóng cả, buồm dương một chèo
Dựng nền đức Thuấn nhân Nghiêu
Sóng yên bể lặng sớm chiều thảnh thơi
Khi Bích động lúc Bồng lai
Non nhân, nước trí mọi nơi ra vào
Cỏ hoa hớn hở đón chào
Nhớ xưa Lưu Nguyễn lạc vào Thiên thai
Trời Nam có đức Hoàng Mười
Phong tư nhất mực tuyệt vời không hai
Nền chí dũng, bậc thiên tài
Văn thao – Võ lược tư Trời thông minh
Tiêu dao di dưỡng tang tình
Thơ Tiên một túi – Phật Kinh trăm tờ
Khi Phong nguyệt, lúc bi từ
Khi xem hoa nở, khi chờ trăng trong
Khi Thiếu lĩnh, lúc non Bồng
Cành cây mắc võng, lòng sông ngự thuyền
Người Thành thị, khách Lâm tuyền
Nam thanh nữ tú mình quyền bóng sang
Phong quang đẹp ý Đức Hoàng
Khác nào Thu cúc – Xuân lan tới tuần
Xiết bao bể ái, nguồn ân
Ban Tài, tiếp Lộc, thi nhân, thi từ
Cát đằng thuận gió xuân đưa
Xui lòng quân tử đề thơ hảo cầu
Năm ba Tiên nữ theo hầu
Trăm hoa cài tóc, nhiễu Tàu vắt vai
Phong hoa tuyết Nguyệt đượm mùi
Dâng câu thiên bảo chúc lời tăng long
Trần duyên chưa trút được lòng
Đường mây sớm trở xe hồng thượng Thiên
Nghe thường hội nghị quần Tiên
Nghe tin người đến thiên duyên chạnh lòng
Vân tiên mượn cánh chim hồng
Xin người soi tỏ tấc lòng cho chăng?
Cầu Ô đem bắc sông Ngân
Ngồi trong cung Quảng đêm Xuân mơ màng
Bóng trăng soi tỏ canh trường
Đã cam tấc dạ tuyết sương cùng người
Thủy tiên dìu dặt đón mời
Bấy lâu khao khát đầy vơi chạnh lòng
Vượt bể đào tới ngàn xanh
Đường Tiên cảnh cũ nặng tình nước non
Trúc xinh cô Quế cũng giòn
Phù dung yểu điệu – Mẫu đơn não nùng
Ngày ngày lên núi ngóng trông
Đỏ hai khóe hạnh chờ mong Đức Hoàng
Nhớ xưa hẹn ngọc, thề vàng
Mừng nay tỏ mặt Đức Hoàng tới nơi
Lên núi rồi lại xuống đồi
Dưới trăng luống những đứng ngồi ngẩn ngơ
Vào rừng hái lá đề thơ
Cậy đôi cánh Nhạn tin đưa tới người
Cõi Trần mở tiệc mừng vui
Đông về nhớ Đức Hoàng Mười giáng sinh
Rượu đào kính chúc Thánh minh
Phong hoa, tuyết nguyệt phẩm bình mấy chương
Ngẫm câu Thế sự vô thường
Tắc son mượn nước cành dương tưới nhuần
Vắng người vắng cả mùa Xuân
Nhớ người vì Nước, vì Dân, vì Đời
Thế gian nhớ miệng Hoàng cười
Nhớ khăn Hoàng chít, nhớ lời Hoàng ban
Khi phố Cát, lúc đồi Ngang
Nón kinh vó ngựa, dăm ngàn tiêu dao
Đường đường cung kiếm anh hào
Túi thơ, bầu rượu sớm chiều sênh sang
Hèo hoa chảy hội Tiên hương
Chấm đồng nhận lính khắp miền Đông Tây
Khi nương gió, lúc cưỡi mây
Khi rung khánh ngọc, khi lay chuông vàng
Hoàng về gối xếp ai mang
Hèo hoa ai vác ngựa vàng ai trông
Lệnh truyền cô Quế, cô Hồng
Hèo hoa, gối xếp, đèn lồng tay mang
Cô Lan, cô Huệ xếp hàng
Gióng yên, dắt ngựa lên đàng vân du
Thuyền Rồng thấp thoáng chèo đưa
Tinh kỳ nhã nhạc Hoàng về Nghệ An
Toàn văn “Văn Ông Hoàng Mười”, 86 câu — văn khuyết danh, theo Bùi Hùng Thắng tổng hợp, 2016, tr.1071–1075 (bỏ dấu câu cuối dòng); dị bản gần trùng in trong Ngô Đức Thịnh, Đạo Mẫu Việt Nam tập 2, tr.362–366.
Chú giải: “Sông Lam”: sông biểu tượng xứ Nghệ, soi bóng đền Chợ Củi và Mỏ Hạc Linh Từ. “Đức Thuấn nhân Nghiêu”: điển vua Nghiêu–Thuấn, mẫu mực thái bình thịnh trị. “Lưu Nguyễn lạc Thiên Thai”: điển Lưu Thần–Nguyễn Triệu gặp cảnh tiên.